Vụ đông năm 2015 tỉnh Vĩnh Phúc trồng được trên 11.000 ha cây ngô đông. Hiện tại cây ngô đang ở giai đoạn xoáy nón – trỗ cờ, cây sinh trưởng phát triển tương đối tốt. Đây là giai đoạn rất quan trọng quyết định năng suất và sản lượng cây ngô khi thu hoạch. Để phòng trừ sâu bệnh hại ngô hiệu quả, hạn chế thiệt hại Chi cục BVTV hướng dẫn xin giới thiệu kỹ thuật phòng trừ một số đối tượng sâu bệnh hại chính trên cây ngô như sau:
1.Sâu đục thân, đục bắp: sâu hại trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô, hại ở tất cả các bộ phận từ lá, thân, bông cờ, bắp. Sâu hoạt động mạnh về ban đêm, ban ngày thường ẩn nấp trong bẹ hay trong nõn lá. Sâu phá hại mạnh từ khi có loa kèn, nhất là từ khi trỗ cờ trở đi (vào tháng 10, 11 vụ đông).
Lúc cây còn nhỏ sâu đục vào nõn làm chết điểm sinh trưởng. Cây lớn sâu đục vào thân làm cây chậm phát triển, nếu gặp gió bão cây dễ bị gãy. Lúc cây trỗ cờ sâu đục vào bao cờ, cuống cờ làm cờ gãy gục, hoa khô héo, thụ phấp kém. Khi cây có bắp non, sâu đục vào bắp ăn hại trong nõi và hạt non làm thối bắp. Cây bị hại nặng làm giảm năng suất và chất lượng của cây.

Cán bộ Chi cục BVTV Vĩnh Phúc kiểm tra tình hình sâu bệnh trên ngô Đông tại huyện Tam Đảo
Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng; dùng giống kháng (ngô biến đổi gen NK66 Bt, NK 66 Gt, NK66 Bt/Gt); bón phân đầy đủ và cân đối; xử lý đất trước khi trồng bằng Basudin 10H, Vibasu 10GR,… hoặc rắc thuốc vào nách lá lúc ngô 7 lá – xoáy nõn. Khi ruộng có trên 20% thân, bắp bị hại nên dùng một trong các loại thuốc sau để phun: Padan 95SP, Regent 5SC, Patox 95SP,…
2. Rệp cờ: trưởng thành có hai loại, có cánh và không có cánh. Rệp thường gây hại từ khi cây 8 – 10 lá cho tới khi ngô chín sáp đến chín hoàn toàn. Rệp hại chủ yếu lá ngô, lá bi, hoa cờ,… chúng chích hút nhựa các bộ phận này làm cây còi cọc, thụ phấn kém, giảm năng suất và chất lượng ngô.
Rệp phát triển mạnh khi nguồn thức ăn đầy đủ, nhất là những ruộng trồng dày. Cuối vụ, khi cây ngô đã già, thức ăn kém thì rệp có cánh phát triển mạnh, di chuyển sang các ruộng bắp non hơn hoặc cây ký chủ khác. Rệp còn là môi giới truyền bệnh virus gây bệnh vàng lùn, khảm lá.
Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng; trồng ngô mật độ hợp lý. Khi rệp mới phát sinh có thể ngắt bỏ các ngọn cờ để tiêu hủy, khi ruộng có trên 30 % tỷ lệ cây bị hại, có thể dùng một trong các loại thuốc như: Selecron 500 ND/EC, Ofatox 400EC, Tre bon 40EC, Actara 25WG,… Cần chú ý thời gian cách ly ghi trên bao bì đối với các loại ngô thu bắp non trước khi thu hoạch ở từng loại thuốc.
3. Bệnh khô vằn: bệnh hại tất cả các bộ phận của cây như bẹ, lá, thân, bắp. Lúc đầu là những vết bệnh loang màu xám, sau chuyển sang màu nâu, nhiều vết bệnh liên kết lại với hau tạo thành những vết hình da báo (đám mây). Nhiều lá bị bệnh làm cây sinh trưởng phát triển kém, làm giảm năng suất ngô. Bệnh nặng làm thân cây chuyển sang màu nâu đen, cây héo gãy ngang và chết, lá bi và hạt bị thối.
Nguyên nhân gây bệnh là do nấm, bệnh hại trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây, hại mạnh từ giai đoạn trỗ cờ - phun râu đến khi thu hoạch. Bệnh thường xảy ra khi trời ẩm ướt, mưa nhiều, nhất là trên những ruộng trồng dày, bón phân không cân đối, bón thừa đạm, hoặc trồng trên những chân đất trồng lúa vụ trước đã bị nhiễm bệnh khô vằn nặng.
Biện pháp phòng trừ: dọn sạch tàn dư, cỏ dại; xử lý đất trước khi trồng; khi cây bị bệnh bỏ bớt những lá bị bệnh. Khi thấy bệnh phát triển, có thể ảnh hưởng đến năng suất có thể dùng một số loại thuốc sau: thuốc sinh học validamycin, chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma (có thể sử dụng nấm đối kháng này xử lý đất ngay đầu vụ), Anvil 5SC, Tilt super 300EC, …
4. Bệnh đốm lá: gồm hai loại đốm lá lớn và đốm lá nhỏ, bệnh hại chủ yếu trên lá.
Bệnh đốm lá lớn: vết bệnh ban đầu là những vệt nhỏ, sau lớn dần có hình thoi, trung tâm vết bệnh có màu nâu sáng, xung quanh màu nâu tối, vết bệnh phát triển nhanh tạo thành những đám lớn. Lá ngô bị bệnh nặng, nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm cho lá khô táp, làm giảm quang hợp của cây ảnh hưởng tới năng suất.
Bệnh đốm lá nhỏ: vết bệnh ban đầu nhỏ như đầu kim, hơi vàng, sau phát triển thành hình tròn hoặc bầu dục nhỏ mầu nâu, ở giữa hơi xám. Bệnh nặng nhiều vết bệnh liên kết với nhau thành đám lớn làm tổn thương lá, làm giảm quang hợp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng ngô.
Bệnh do nấm gây ra, bệnh đốm lá có thể hại từ rất sớm khi cây ngô được 2 – 3 lá cho tới hết thời kỳ sinh trưởng. Bệnh thường gây hại nhiều ở những ruộng ngô xấu, ruộng có kết cấu thịt nặng hoặc những ruộng thường xuyên bị thiếu nước.
Biện pháp phòng trừ: dọn sạch tàn dư, cỏ dại; đất trồng phải khô thoáng, hệ thống tưới tiêu tốt; chăm sóc, bón phân và tưới nước đầy đủ, đúng kỹ thuật để phòng bệnh. Khi tỷ lệ lá hại trên 20 – 30 % (giai đoạn xoáy nõn – trỗ cờ - Phun dâu) có thể sử dụng một trong các loại thuốc: Tilt super 300EC, Anvil 5SC, Daconil 75WP,…
5. Bệnh gỉ sắt: bệnh do nấm gây ra, ban đầu trên lá xuất hiện những chấm màu nâu nhạt sau đó chuyển sang nâu đậm, vết bệnh hơi nổi gờ. Bệnh nặng trên vết bệnh có bột màu nâu đỏ hoặc vàng gạch non, nhiều vết bệnh liên kết làm cho lá ngô dày lên và co lại, làm giảm quang hợp ảnh hưởng đến năng suất.
Bệnh thường xuất hiện và gây hại từ giai đoạn trỗ cờ đến thu hoạch. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết mát mẻ, ẩm độ cao, ở những ruộng bón nhiều đạm, trồng dày.
Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng; xử lý đất bằng cách ngâm hoặc phơi ải, trồng mật độ hợp lý, bón phân cân đối; tăng cường thâm canh. Khi bệnh xuất hiện và có thể lây lan rộng, dùng một trong các loại thuốc sau: Anvil 5SC, Amistartop 325SC, Antracop 70 WP,…
Ngoài các đối tượng sâu bệnh chính đã nêu ở trên đề nghị bà con nông dân tích cực phòng trừ chuột hại bằng các biện pháp tổng hợp, đặc biệt chuột sẽ phá mạnh ở giai đoạn ra hạt – thu hoạch, nhằm đảm bảo năng suất và hiệu quả kinh tế.
Chú ý: để phòng trừ các loại sâu, bệnh hại ngô đạt hiệu quả bà con nông dân nên tuân thủ nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV, an toàn và hiệu quả. Mọi thắc mắc, tư vấn xin liên hệ về Chi cục BVTV Vĩnh Phúc, số điện thoại 0211.3843201.
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vĩnh Phúc
